Phát triển bền vững – An Phát Holdings Mon, 06 Oct 2025 04:54:11 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.6.5 /wp-content/uploads/2019/12/cropped-Favicon-32x32.png Phát triển bền vững – An Phát Holdings 32 32 Việt Nam chỉ có 13 loại túi nilon được chứng nhận ‘xanh’ trong 2 năm /phat-trien-ben-vung/viet-nam-chi-co-13-loai-tui-nilon-duoc-chung-nhan-xanh-trong-2-nam.html Thu, 28 Aug 2025 07:52:58 +0000 /?p=10418 Túi nilon được chứng nhận “xanh” nếu làm từ nhá»±a tái chế hoặc phân há»§y sinh học, nhưng số này tại Việt Nam còn ít ỏi bởi chưa được ưu đãi rõ ràng, khó cạnh tranh về giá vá»›i túi nilon thường.

Nhãn xanh hoặc sinh thái là công cụ chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp và người dân chuyển đổi sang sản xuất, tiêu dùng loại sản phẩm thân thiện môi trường. Công cụ này được áp dụng thành công tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan hay các nước châu Âu. Tại Nhật Bản, chỉ trong năm 2016, thị trường các sản phẩm nhãn xanh có quy mô tới 44 tỷ USD.

Tại Việt Nam, hệ thống pháp lý về nhãn xanh được hình thành từ Luật Bảo vệ môi trường 2005, 2014 và hoàn thiện trong Luật 2020. Tuy nhiên, kết quả áp dụng công cụ này sau 20 năm vẫn khiêm tốn.

Tại tọa đàm “Thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững thông qua nhãn sinh thái” ngày 27/8, ông Nguyá»…n Trung Thắng, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bá»™ Nông nghiệp và Môi trường), nói từ năm 2024 đến ná»­a đầu năm 2025, Việt Nam chỉ có thêm 13 sản phẩm được chứng nhận.

Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, tại sự kiện. Ảnh: Tiền Phong

Sản phẩm được chứng nhận nhãn sinh thái gồm các loại túi nilon phân há»§y sinh học hoặc túi làm từ nhá»±a PE, vá»›i hàm lượng vật liệu tái chế trên 20%. Nhãn sinh thái (trước đó là chương trình “nhãn xanh”) do Bá»™ Nông nghiệp và Môi trường công bố tiêu chí và cập nhật danh mục sản phẩm, dịch vụ, có hiệu lá»±c trong ba năm.

Theo ông Lê Hoài Nam, Phó cục trưởng Môi trường, nguyên nhân lượng sản phẩm nhãn sinh thái còn hạn chế do năng lực doanh nghiệp trong nước còn yếu, thiếu nguồn lực đổi mới công nghệ. Thêm vào đó, chính sách ưu đãi chưa rõ ràng.

Ví dụ, túi nilon khó phân hủy chịu thuế bảo vệ môi trường tới 50.000 đồng mỗi kg, nhằm hạn chế sản xuất, đồng thời khuyến khích chuyển đổi sang túi thân thiện môi trường. Tuy nhiên, ông Nam nói trên thực tế, nhiều cơ sở nhỏ lẻ vẫn trốn thuế và tiếp tục sản xuất túi nilon thường, khiến túi phân hủy sinh học hay tái chế khó cạnh tranh về giá.

Nhiều nhà đầu tư tham gia sẽ giúp giảm giá thành sản phẩm cuối. Tham gia thị trường túi thân thiện tại Pháp từ năm 2014, ông Nguyễn Lê Thăng Long, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần nhựa An Phát Xanh, kể cuộc chiến công nghệ giữa các doanh nghiệp sản xuất đẩy giá thành sản phẩm ở mức cao. Đến năm 2020, khi thị trường bùng nổ, hệ sinh thái hoàn thiện hơn với nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất nguyên liệu, giúp loại túi này giảm một nửa giá.

“Điều này tạo động lá»±c giúp thị trường phát triển gấp 3-4 lần, dù vẫn chưa đạt được kỳ vọng cá»§a chúng tôi”, ông Long nói.

Ở góc độ nguồn cầu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, nói người tiêu dùng trong nước vẫn quan tâm nhiều đến an toàn thực phẩm hơn là câu chuyện môi trường.

Đại diện An Phát Xanh cho rằng thị trường Việt Nam còn nhiều khó khăn tương tự Pháp trước đây. Việc chuyển đổi thói quen từ dùng túi nilon sang túi giấy, túi phân hủy cần nhiều năm để định hình. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của truyền thông trong việc chuyển đổi người dùng. Ví dụ, nếu người tiêu dùng hiểu việc sử dụng túi phân hủy để bọc thịt sẽ không dính hạt vi nhựa vào đồ ăn như túi nilon thông thường, việc chuyển đổi sẽ hiệu quả hơn.

Tạo lập và phát triển thị trường là một trong ba nhóm chính sách lớn đang được cơ quan chức năng tập trung cho sản phẩm xanh, trong bối cảnh thị trường nhãn sinh thái trong nước còn rất nhỏ. Theo Phó cục trưởng Môi trường, Nhà nước sẽ đóng vai trò tiên phong và dẫn dắt thị trường, với chính sách ưu tiên mua sắm công xanh, kéo theo sự tham gia của khối tư nhân và người dân.

Nhóm chính sách thứ hai là các quy định mang tính hành chính, cấm hoặc hạn chế các sản phẩm nguy cơ ô nhiễm. Theo lộ trình giảm nhựa quy định tại Nghị định 08 năm 2022, Việt Nam sẽ cấm hoàn toàn sản xuất và tiêu dùng nhựa dùng một lần sau ngày 31/12/2030.

Lộ trình này sẽ sớm hơn tại các tỉnh, thành, với việc cấm nhựa một lần, túi nilon khó phân hủy tại siêu thị trung tâm thương mại, khách sạn, khu du lịch từ đầu năm 2026. Hay như tại Hà Nội, việc cấm loại nhựa này được áp dụng ngay trong Quý IV năm nay, với nhà hàng, khách sạn, cửa hàng đồ uống, quán ăn trong Vành đai 1, và nhân rộng trong những năm tiếp theo.

Ông Nam nói mục tiêu mạnh mẽ này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải gấp rút phát triển sản phẩm thay thế để cung ứng cho thị trường.

Nhóm chính sách thứ ba là các công cụ kinh tế, gồm thuế, phí và ưu đãi tài chính. Trong đó, doanh nghiệp làm sản phẩm xanh có thể tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp từ ngân hàng thương mại hoặc Quỹ Bảo vệ Môi trường.

Thêm vào đó, Bộ Tài chính đang chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa Luật Thuế bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung một số nhóm hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm vào diện chịu thuế, bên cạnh túi nilon, dự kiến trình Quốc hội thông qua vào năm tới.

Theo VnExpress

]]>
Các chợ và cửa hàng tiện lợi ở Hà Nội không được sử dụng túi ni lông, hộp nhựa xốp khó phân hủy đóng gói thực phẩm từ 2028 /phat-trien-ben-vung/cac-cho-va-cua-hang-tien-loi-o-ha-noi-khong-duoc-su-dung-tui-ni-long-hop-nhua-xop-kho-phan-huy-dong-goi-thuc-pham-tu-2028.html Tue, 15 Jul 2025 09:54:50 +0000 /?p=10314

Theo lá»™ trình, từ ngày 1/1/2027, các chợ, cá»­a hàng tiện ích ở Hà Ná»™i không cung cấp miá»…n phí túi ni lông khó phân há»§y sinh học và sẽ không được lưu hành từ ngày 1/1/2028…

Theo lộ trình, từ ngày 1/1/2027, chợ, cửa hàng tiện ích không cung cấp miễn phí túi ni lông khó phân hủy sinh học và không lưu hành từ ngày 1/1/2028.
Theo lộ trình, từ ngày 1/1/2027, chợ, cửa hàng tiện ích không cung cấp miễn phí túi ni lông khó phân hủy sinh học và không lưu hành từ ngày 1/1/2028.

Ngày 10/7, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết quy định biện pháp giảm phát thải nhựa trên địa bàn thành phố Hà Nội (thực hiện điểm d khoản 2 Điều 28 Luật Thủ đô).

Nghị quyết quy định biện pháp giảm phát thải nhựa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Theo đó, doanh nghiệp sản xuất có sử dụng nhựa PE, PP trong các bao bì quy định tại điểm d, đ và điểm e khoản 2 Điều 77 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 6/01/2025 của Chính phủ, phải sử dụng tối thiểu 20% nhựa tái chế trong các bao bì nêu trên kể từ ngày 01/01/2028; đồng thời phải sử dụng tối thiểu 30% nhựa tái chế trong các bao bì nêu trên kể từ ngày 01/01/2030.

Nghị quyết nêu rõ việc giảm dần việc sản xuất và nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa.

Kể từ ngày 01/01/2031, dừng sản xuất, nhập khẩu sản phẩm nhựa sử dụng một lần (trừ sản phẩm được chứng nhận nhãn sinh thái Việt Nam), bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm) và sản phẩm, hàng hóa chứa vi nhựa, trừ trường hợp sản xuất để xuất khẩu và trường hợp sản xuất, nhập khẩu bao bì nhựa khó phân hủy sinh học để đóng gói sản phẩm, hàng hóa bán ra thị trường.

Các chợ, cửa hàng tiện lợi không cung cấp miễn phí túi ni lông khó phân hủy sinh học kể từ ngày 01/01/2027; đơn vị bán hàng trực tuyến có trách nhiệm giảm thiểu sử dụng bao bì nhựa, vật liệu chống sốc bằng nhựa hoặc thu hồi các bao bì nhựa, vật liệu chống sốc không để thất thoát ra môi trường.

Chợ, cửa hàng tiện lợi không lưu hành và sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần, bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm), trừ sản phẩm, hàng hóa có bao bì nhựa khó phân hủy sinh học kể từ ngày 01/01/2028.

Khách sạn, khu du lịch không lưu hành và sử dụng các sản phẩm từ nhựa sử dụng một lần (gồm bàn chải đánh răng; dao cạo râu; tăm bông; mũ tắm; bao bì nhựa sử dụng một lần chứa, đựng: Kem đánh răng, sữa tắm, sữa dưỡng thể, dầu gội, sữa dưỡng tóc) kể từ ngày 01/01/2026.

Trong hoạt động sinh hoạt, các đơn vị, cơ quan, tổ chức, đoàn thể trực thuộc chính quyền thành phố không sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng một lần (trừ sản phẩm được chứng nhận nhãn sinh thái Việt Nam), bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm).

Nghị quyết cũng nêu rõ việc không sử dụng bao bì nhựa khó phân hủy sinh học (gồm túi ni lông khó phân hủy sinh học, hộp nhựa xốp đóng gói, chứa đựng thực phẩm) để chứa đựng, tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, trừ sản phẩm, hàng hóa có bao bì nhựa khó phân hủy sinh học kể từ ngày 01/1/2028.

Tại Hà Nội, chất thải nhựa phát sinh khoảng 1.427 tấn/ngày; trong đó hơn 60% là chất thải nhựa dùng một lần và túi ni lông.

Gần 20% khối lượng nhựa thu gom được tái chế bởi các cơ sở tái chế nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, làng nghề khu vực quanh Hà Nội và chủ yếu là các loại nhựa PET và HDPE; các loại nhựa LDPE và các loại khác gần như bị thải bỏ tại các bãi rác.

Theo Báo cáo hiện trạng tiêu thụ túi ni lông dùng một lần trong chuỗi siêu thị tại Hà Nội, thực hiện năm 2021, số lượng túi ni lông dùng một lần tại các siêu thị rất lớn. Chỉ tính riêng 48 siêu thị trong khảo sát, số lượng túi ni lông phát ra miễn phí mỗi ngày là 104.000 túi, tương đương với 38 triệu túi một năm. Phần lớn lượng túi ni lông này chỉ được sử dụng một lần và thải bỏ ra ngoài bãi chôn lấp.

Túi ni lông chiếm tỷ lệ 38,5% tổng trọng lượng chất thải nhựa tại Hà Nội. Bên cạnh đó là tỷ trọng đáng kể của bao gói nhiều lớp 21,4%. Hai loại này chiếm đến 70% và 60% lượng nhựa để tái chế và chủ yếu được xử lý tại các bãi chôn lấp hoặc lò đốt.

Theo Vneconomy

]]>
Vi khuẩn biến rác thải nhựa thành thuốc giảm đau /phat-trien-ben-vung/vi-khuan-bien-rac-thai-nhua-thanh-thuoc-giam-dau.html Mon, 30 Jun 2025 06:46:52 +0000 /?p=10243 Các nhà nghiên cứu phát hiện có thể sử dụng vi khuẩn để biến rác thải nhựa thành thuốc giảm đau, mở ra khả năng sản xuất thuốc bền vững hơn.

Vi khuẩn E. coli biến đổi gene có thể giúp giảm lượng rác thải nhựa. Ảnh: Sustainable Packaging News
Vi khuẩn E. coli biến đổi gene có thể giúp giảm lượng rác thải nhựa. Ảnh: Sustainable Packaging News

Theo Guardian, các nhà hóa học ở Đại học Edinburg nhận thấy E. coli có thể giúp tạo ra paracetamol (còn gọi là acetaminophen) từ chai nhá»±a. “Công nghệ hé lá»™ tiềm năng kết hợp hóa học và sinh học, cho phép sản xuất paracetamol bền vững hÆ¡n đồng thời làm sạch rác thải nhá»±a từ môi trường”, Stephen Wallace, tác giả chính cá»§a nghiên cứu từ Đại học Edinburgh, cho biết.

Trong bài báo công bố tuần qua trên tạp chí Nature Chemistry, Wallace và đồng nghiệp mô tả cách họ phát hiện một loại phản ứng hóa học gọi là tái sắp xếp Lossen, có tính tương thích sinh học. Nói cách khác, có thể thực hiện phản ứng khi có tế bào sống hiện diện mà không gây hại cho chúng.

Nhóm nghiên cứu nhận ra điều này khi lấy polyethylene terephthalate (PET), loại nhựa thường thấy trong bao bì thực phẩm và chai lọ, sau đó sử dụng phương pháp hóa học bền vững, biến đổi thành vật liệu mới. Khi các nhà nghiên cứu ủ vật liệu với một chủng E. coli vô hại, họ phát hiện nó biến đổi thành hợp chất khác gọi là Paba trong quá trình liên quan tới tái sắp xếp Lossen.

Trong khi phản ứng tái sắp xếp Lossen thường đòi hỏi điều kiện thí nghiệm nghiêm ngặt, nó xảy ra ngay lập tức khi tồn tại E. coli, được xúc tác bởi phosphate trong chính các tế bào. Theo nhóm nghiên cứu, Paba là hợp chất thiết yếu mà vi khuẩn cần để phát triển, đặc biệt là tổng hợp ADN, thường được tạo ra trong tế bào từ hợp chất khác. Tuy nhiên, E. coli được sử dụng trong thí nghiệm đã được biến đổi gene để chặn con đường này, có nghĩa vi khuẩn phải sử dụng vật liệu PET.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu biến đổi gene E. coli thêm nữa, chèn hai gene lấy từ nấm và vi khuẩn đất, giúp vi khuẩn biến đổi PABA thành paracetamol. Khi sử dụng E coli theo cách này, họ có thể biến vật liệu ban đầu dựa trên PET thành paracetamol trong vòng chưa đầy 24 giờ, với lượng thải khí thấp và hiệu suất lên đến 92%. Dù cần nghiên cứu thêm để sản xuất paracetamol bằng phương pháp trên ở quy mô thương mại, kết quả có thể ứng dụng trong thực tế.

Theo The Guardian

]]>
Việt Nam sẽ thí điểm sàn giao dịch carbon từ 2025, vận hành chính thức vào 2029 /phat-trien-ben-vung/viet-nam-se-thi-diem-san-giao-dich-carbon-tu-2025-van-hanh-chinh-thuc-vao-2029.html Wed, 26 Feb 2025 01:42:51 +0000 /?p=10114

Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng khuôn khổ pháp lý, thí điểm sàn giao dịch carbon trong giai đoạn từ năm 2025 đến 2028 và vận hành chính thức vào năm 2029…

Việt Nam sẽ chính thức vận hành thị trường tín chỉ carbon vào năm 2029 - Hình minh họa do AI thực hiện.
Việt Nam sẽ chính thức vận hành thị trường tín chỉ carbon vào năm 2029 – Hình minh họa do AI thá»±c hiện.

Ngày 24/1/2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 232/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.

Mục tiêu chung của Đề án nhằm phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính theo cam kết tại Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), với chi phí thấp, đồng thời tạo nguồn tài chính mới cho hoạt động cắt giảm phát thải.

Cùng vá»›i đó thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghệ phát thải thấp, nâng cao năng lá»±c cạnh tranh doanh nghiệp, phát triển kinh tế carbon thấp và ứng phó vá»›i biến đổi khí hậu, hướng tá»›i phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Cụ thể, đến trước tháng 6/2025 hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon và cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon, tạo cơ sở triển khai thí điểm sàn giao dịch carbon. Đồng thời, xây dựng hạ tầng vận hành thị trường carbon, nâng cao năng lực quản lý của cơ quan nhà nước và nhận thức, năng lực tham gia thị trường của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.

SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI LÀ NƠI CUNG ỨNG DỊCH VỤ

Theo Đề án  được phê duyệt, hàng hóa trên thị trường carbon gồm 2 loại, cụ thể:

Thứ nhất, hạn ngạch phát thải khí nhà kính, được phân bổ cho các cơ sở thuộc Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo phương thức miễn phí và phương thức đấu giá.

Thứ hai, tín chỉ carbon được xác nhận giao dịch trên thị trường gồm: Tín chỉ carbon thu được từ chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước theo quy định của pháp luật Tín chỉ carbon thu được từ chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín ch.

Cùng với đó là các tín chỉ carbon quốc tế như tín chỉ carbon thu được từ Cơ chế phát triển sạch (CDM), tín chỉ carbon thu được từ Cơ chế tín chỉ chung (JCM), tín chỉ carbon thu được theo Cơ chế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris.

Đề án đưa ra 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp thực hiện gồm: Nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về hàng hóa trên thị trường carbon; Nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về chủ thể tham gia thị trường carbon; Nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về hệ thống đăng ký quốc gia và sàn giao dịch carbon; Nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về tổ chức vận hành thị trường carbon; Nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực.

Về phương thức giao dịch, việc giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện trên sàn giao dịch carbon trong nước.

Trong đó, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội xây dựng và cung ứng dịch vụ sàn giao dịch carbon trong nước theo yêu cầu nghiệp vụ về tổ chức, quản lý thị trường và các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan xây dựng.

Theo Quyết định số 232/QĐ-TTg, giao dịch trên thị trường carbon được tổ chức tập trung trên sàn giao dịch carbon, với hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon do Bộ Tài nguyên và Môi trường xác nhận. Các mã số cấp cho giao dịch là duy nhất và không trùng lặp.

Đồng thời, các chủ thể tham gia phải có tài khoản lưu ký giao dịch, và việc đăng ký, cấp mã số được thực hiện tập trung nhằm đảm bảo dữ liệu đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý, giám sát.

Đề án được phê duyệt nêu rõ Tổng Công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam cung cấp dịch vụ lưu ký, thanh toán, dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng các cơ quan liên quan xây dựng. Thanh toán giao dịch được hệ thống tự động thực hiện, đảm bảo nguyên tắc chuyển giao hàng hóa đồng thời với thanh toán tiền tại ngân hàng.

Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại đủ điều kiện sẽ thực hiện thanh toán tiền cho các giao dịch. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành tổ chức vận hành thị trường carbon, đảm bảo quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát tài nguyên, tài sản và ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội.

CÁC CHỦ THỂ THAM GIA GIAO DỊCH TRÊN SÀN GIAO DỊCH CARBON 

Về lộ trình triển khai thị trường carbon gồm hai giai đoạn. Giai đoạn thực hiện thí điểm từ năm 2025 đến hết năm 2028. Trong giai đoạn này sẽ triển khai thực hiện thí điểm thị trường carbon trên toàn quốc. Việc chuyển nhượng tín chỉ carbon, kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho đối tác nước ngoài, quốc tế được nghiên cứu, quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật và được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Toàn bộ hạn ngạch phát thải khí nhà kính được nghiên cứu, xem xét phân bổ miễn phí cho các cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc một số lĩnh vực phát thải lớn. Tín chỉ carbon được xác nhận giao dịch trên sàn giao dịch carbon.

Trong đó gồm các tín chỉ carbon thu được từ: Chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước; Cơ chế phát triển sạch (CDM); Cơ chế tín chỉ chung (JCM); Cơ chế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Tỷ lệ tín chỉ carbon sử dụng để bù trừ phát thải khí nhà kính trên tổng số hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ cho cơ sở do Chính phủ quy định.

Đề án cũng quy định chủ thể tham gia giao dịch trên sàn giao dịch carbon là các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn thuộc Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính do Thủ tướng Chính phủ ban hành được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được tham gia mua, bán tín chỉ carbon trên sàn giao dịch carbon.

Giai đoạn vận hành chính thức trên toàn quốc bắt đầu từ năm 2029. Theo đó, các lĩnh vực, cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính được nghiên cứu, xem xét mở rộng theo lộ trình. Hạn ngạch phát thải khí nhà kính được nghiên cứu, xem xét phân bổ miễn phí và phân bổ qua đấu giá.

“Tá»· lệ chi tiết về phân bổ miá»…n phí, đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính sẽ được đề xuất trong giai Ä‘oạn triển khai thí Ä‘iểm và sau khi có đầy đủ thông tin, số liệu về hạn ngạch phát thải khí nhà kính được cấp, khối lượng giao dịch”, Đề án nêu rõ.

Đồng thời, tá»· lệ tín chỉ carbon sá»­ dụng để bù trừ phát thải trên tổng số hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ cho cÆ¡ sở do Chính phá»§ quy định; xem xét mở rá»™ng chá»§ thể được tham gia giao dịch tín chỉ carbon trên sàn giao dịch carbon (Ä‘iều chỉnh Ä‘iều kiện tổ chức, cá nhân được tham gia giao dịch trên sàn giao dịch carbon)…

Theo Vneconomy

]]>
Xây dựng chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các dự án xanh /phat-trien-ben-vung/xay-dung-chinh-sach-uu-dai-khuyen-khich-dau-tu-vao-cac-du-an-xanh.html Wed, 11 Dec 2024 03:56:05 +0000 /?p=10002

Thủ tướng giao các bộ, ngành hoàn thiện chính sách ưu đãi về tài chính khuyến khích đầu tư vào các dự án xanh.

Thá»§ tướng Chính phá»§ ban hành Chỉ thị số 44/CT-TTg ngày 9/12/2024 về triển khai má»™t số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm đẩy mạnh thá»±c hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai Ä‘oạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.

Hướng tới mục tiêu Net Zero 2050

Để thúc đẩy thực hiện TTX, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 năm 2050, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ đã được phân giao tại Chiến lược TTX và Kế hoạch hành động TTX.

Trong đó, Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kịp thời lồng ghép, tích hợp mục tiêu, nhiệm vụ TTX vào các chiến lược, đề án, quy hoạch, kế hoạch và các văn bản pháp luật của các ngành, lĩnh vực dự kiến ban hành trong thời gian tới; rà soát, đánh giá tiềm năng của các ngành, lĩnh vực mới trong TTX. Đẩy nhanh thực hiện các chương trình, dự án, đề án thí điểm các mô hình mới gắn với TTX; đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa, lợi ích của TTX cho người dân, cộng đồng doanh nghiệp; tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình thực hiện TTX.

Hiện thá»±c hóa tăng trưởng xanh gắn vá»›i phát triển kinh tế – xã há»™i 

Bá»™ Kế hoạch và Đầu tư triển khai xây dá»±ng cÆ¡ chế giám sát, đánh giá, báo cáo thá»±c hiện Chiến lược TTX; xây dá»±ng lá»™ trình hiện thá»±c hóa TTX gắn vá»›i phát triển kinh tế – xã há»™i vá»›i tầm nhìn dài hạn hướng tá»›i mục tiêu trung hòa cacbon.

Thể chế hóa, giám sát việc điều chỉnh, bổ sung áp dụng các chính sách, mô hình, công cụ kinh tế mới để thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững, bảo đảm bình đẳng và năng lực cạnh tranh, phát huy vai trò quan trọng của khu vực tư nhân trong quá trình chuyển đổi xanh.

Tăng cường vận động, huy động mọi nguồn lực cho TTX; sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công theo hướng ưu tiên nguồn vốn ngân sách nhà nước cho TTX; xây dựng cơ chế ưu đãi đầu tư thúc đẩy TTX, cơ chế hỗ trợ dự án thí điểm xanh tại Việt Nam; tổng hợp danh sách các dự án thí điểm xanh, danh mục các nhiệm vụ, dự án xanh trọng điểm trong từng thời kỳ.

Xây dựng chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các dự án xanh

Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách về quản lý và sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước thúc đẩy TTX; xây dựng, hoàn thiện chính sách ưu đãi về tài chính khuyến khích đầu tư vào các dự án xanh; khẩn trương hoàn thiện Đề án thành lập và phát triển thị trường cacbon tại Việt Nam.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế về ngân hàng và tín dụng phù hợp với các mục tiêu TTX đặc biệt là tín dụng xanh và ngân hàng xanh; xây dựng các giải pháp tập trung nguồn lực cho tín dụng xanh, chính sách tín dụng ưu đãi cho các dự án xanh; chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh cấp tín dụng xanh, tập trung nguồn vốn cho các ngành kinh tế xanh, dự án xanh, thân thiện với môi trường.

Bá»™ Công Thương cÆ¡ cấu lại, nâng cấp các ngành công nghiệp dá»±a trên đổi má»›i sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ; tăng cường thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp xanh như năng lượng tái tạo, hydrogen, phương tiện vận tải Ä‘iện, hạ tầng sạc Ä‘iện…; hoàn thiện và thá»±c hiện hiệu quả Kế hoạch thá»±c hiện Tuyên bố về chuyển đổi Ä‘iện than sang năng lượng sạch; cam kết về các mục tiêu năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng toàn cầu; đẩy mạnh nghiên cứu, thá»±c hiện các giải pháp thích ứng vá»›i CÆ¡ chế Ä‘iều chỉnh biên giá»›i cacbon (CBAM).

Bá»™ Tài nguyên và Môi trường tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và Ä‘a dạng sinh học, thích ứng vá»›i biến đổi khí hậu, nâng cao năng lá»±c quan trắc, dá»± báo, cảnh báo thiên tai; ưu tiên bố trí các nguồn lá»±c, đẩy nhanh thá»±c hiện các dá»± án trọng Ä‘iểm về ứng phó vá»›i biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, nhất là hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển, sạt lở đất…

Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách về trao đổi, bù trừ tín chỉ cacbon; trình ban hành tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh; hoàn thiện bộ tiêu chí xanh quốc gia làm cơ sở xác định và phân loại các hoạt động kinh tế; hoàn thiện các quy định, chính sách, các hướng dẫn về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật đẩy nhanh việc thực hiện kinh tế tuần hoàn.

Bộ Xây dựng xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách và công cụ giám sát, đánh giá phát triển đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, công trình xây dựng xanh, hạ tầng công cộng và các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường; sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng phát thải cacbon thấp; sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng sạch.

Hoàn thiện Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình hạ tầng kỹ thuật, tập trung nội dung về ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải (cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải rắn, chiếu sáng, cấp năng lượng…).

Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, công nghệ cao

Bá»™ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục đẩy mạnh cÆ¡ cấu lại ngành nông nghiệp, khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cÆ¡, tuần hoàn, công nghệ cao, bảo vệ môi trường, giảm phát thải và thích ứng vá»›i biến đổi khí hậu; hoàn thiện hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thích ứng vá»›i biến đổi khí hậu, trọng tâm là các công trình thá»§y lợi, nước sạch phục vụ cÆ¡ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dá»±ng nông thôn má»›i; tập trung triển khai hiệu quả Đề án “Phát triển bền vững má»™t triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn vá»›i TTX vùng đồng bằng sông Cá»­u Long đến năm 2030”.

Bá»™ Ngoại giao tham mưu thiết lập các khuôn khổ hợp tác về kinh tế xanh, thúc đẩy công tác “ngoại giao kinh tế”, “ngoại giao công nghệ”, “ngoại giao khí hậu”, hợp tác công nghệ, huy động các nguồn tài chính cho TTX, chuyển đổi xanh; chá»§ động tham gia, đóng góp tích cá»±c trong các khuôn khổ hợp tác, sáng kiến quốc tế về TTX và phát triển bền vững để nâng cao vai trò, hình ảnh quốc tế cá»§a Việt Nam, tạo thuận lợi cho việc huy động các nguồn lá»±c quốc tế, tạo Ä‘iều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các chuá»—i cung ứng xanh toàn cầu.

Đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ tăng trưởng xanh

Bộ Thông tin và Truyền thông đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp, các nhà sản xuất, các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội, thay đổi nhận thức, hành vi sản xuất, tiêu dùng, lối sống xanh; đẩy mạnh chuyển đổi số phục vụ TTX; tích hợp TTX vào các chương trình, kế hoạch đầu tư hạ tầng đồng bộ trong chuyển đổi số.

Bộ Giáo dục và Đào tạo tích hợp, lồng ghép TTX vào công tác giáo dục, đào tạo trong các cấp học, tuyên truyền, giáo dục về kỹ năng mềm, hình thành phong cách, ý thức sống xanh, văn minh; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành, lĩnh vực liên quan quan tới TTX (ngành năng lượng mới: hydrogen).

Phát triển dịch vụ du lịch theo hướng xanh

Bá»™ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn thiện khung pháp lý và cÆ¡ chế chính sách phát triển du lịch xanh; xá»­ lý vi phạm vá»›i các hành vi xâm phạm môi trường, cảnh quan, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường du lịch; xây dá»±ng, triển khai hiệu quả Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045; xây dá»±ng bá»™ tiêu chuẩn phát triển du lịch xanh đồng bá»™ và hiệu quả; phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch theo hướng xanh, phát huy các giá trị tài nguyên tá»± nhiên và di sản văn hóa dân tá»™c; đẩy mạnh quảng bá du lịch xanh.

Bá»™ Lao động – Thương binh và Xã há»™i hoàn thiện các chính sách lồng ghép ứng phó vá»›i biến đổi khí hậu, thúc đẩy tạo việc làm xanh, há»— trợ chuyển đổi việc làm, tạo việc làm má»›i và bảo đảm an sinh xã há»™i; chính sách phát triển sinh kế bền vững cho người lao động, nhất là lao động yếu thế; thá»±c hiện hiệu quả các chương trình, đề án há»— trợ phát triển thị trường lao động, tạo việc làm trong các lÄ©nh vá»±c liên quan tá»›i TTX; tích hợp; bổ sung thêm các ngành, nghề đào tạo má»›i trong các lÄ©nh vá»±c cho TTX vào chương trình đào tạo, đào tạo giáo dục nghề nghiệp; tăng cường đầu tư cÆ¡ sở vật chất, thiết bị đào tạo cho các cÆ¡ sở giáo dục nghề nghiệp hướng tá»›i môi trường đào tạo nghề xanh, đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí xanh cá»§a quốc gia và thế giá»›i.

Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện danh mục quốc gia tổng hợp các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phát thải cacbon thấp trong các ngành sản xuất; ưu tiên phân bổ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo cho TTX.

Bên cạnh đó, triển khai nghiên cứu phát triển và ứng dụng các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là công nghệ sản xuất, lưu trữ, phân phối và sử dụng hydrogen; thu giữ/sử dụng cacbon (CCS/CCUS); nghiên cứu, thử nghiệm, cải tiến, đổi mới công nghệ sạch trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp tư nhân lớn theo hướng chuyển dịch sang kinh tế các-bon thấp, giảm tiêu thụ năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính.

Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh

Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông xanh, năng lượng xanh (trong đó có nhiên liệu hydrogen đối với phương tiện, thiết bị, hạ tầng giao thông xanh).

Cá»™ng đồng doanh nghiệp, các hiệp há»™i ngành nghề có liên quan, viện nghiên cứu, trường đại học chá»§ động phối hợp cùng các bá»™, ngành tham gia, huy động đóng góp cá»§a các tổ chức trong nước và quốc tế, các đối tác phát triển trong thá»±c hiện Chiến lược quốc gia về TTX; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về TTX…

Theo TC Kinh tế môi trường

]]>
Chuyển đổi khu công nghiệp để phát triển bền vững /phat-trien-ben-vung/chuyen-doi-khu-cong-nghiep-de-phat-trien-ben-vung.html Fri, 06 Sep 2024 02:14:18 +0000 /?p=9467 Trong bối cảnh các nhà nhập khẩu yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn sản phẩm xanh, việc phát triển khu công nghiệp sinh thái tại Việt Nam không còn là giải pháp được khuyến nghị mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc thúc đẩy thu hút đầu tư để hàng hóa Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tập đoàn An Phát Holdings đầu tư khu công nghiệp sinh thái tại Hải Dương. (Ảnh ÐAN THANH)
Tập đoàn An Phát Holdings đầu tư khu công nghiệp sinh thái tại Hải Dương. (Ảnh ÐAN THANH)

Cuối năm 2023, Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền trở thành 1 trong 19 điểm du lịch văn hóa, lịch sử và trải nghiệm gắn với bảo vệ môi trường và hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Danh sách do Sở Giáo dục và Ðào tạo, Sở Du lịch và Thành đoàn Hải Phòng lựa chọn và công bố.

Khu công nghiệp trở thành điểm du lịch

Lý do Khu công nghiệp Cầu Kiền được chọn là vì nơi đây không chỉ tập trung các nhà máy sản xuất mà còn lưu giữ những giá trị lịch sử, tạo nên giá trị đa dạng sinh học cũng như những trải nghiệm phong phú với nhiều thông tin, bài học về thiên nhiên, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững theo định hướng đã được nhà đầu tư là Công ty cổ phần Shinec đề ra từ hơn 10 năm trước.

Chia sẻ về quá trình đầu tư bài bản và sáng tạo để trở thành đơn vị tiên phong trong chuyển đổi mô hình khu công nghiệp sinh thái, ông Phạm Hồng Ðiệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Shinec cho biết tại đây đã hình thành 3 chuỗi cộng sinh công nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn, gồm ngành luyện kim-cơ khí, nhựa và các sản phẩm từ nhựa, phụ trợ điện-điện tử.

Về xử lý nước thải, khu công nghiệp Nam Cầu Kiền đã có hệ thống quan trắc nguồn thải tự động, truyền dẫn thông tin liên tục 24/24 giờ về Sở Tài nguyên và Môi trường để giám sát. Ðến nay, 25% lượng nước thải sau xử lý được tái sử dụng cho mục đích tưới cây, rửa đường…, góp phần giảm xả thải ra môi trường và tiết kiệm được 6 tỷ đồng mua nước sạch/năm.

Ðáng lưu ý, nhà máy xử lý nước thải được xây dựng thiết kế theo mô hình công viên vườn Nhật, kết hợp với khoảng 1 triệu cây xanh đã được trồng (chiếm 33% tổng diện tích đất toàn khu công nghiệp), đưa Nam Cầu Kiền trở thành một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Tại Nam Cầu Kiền cũng tự sản xuất được hơn 81 kW giờ điện mặt trời áp mái để sử dụng vận hành trong khu công nghiệp. Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng hơn 1.000 tỷ đồng/năm.

Ðón đầu dòng vốn xanh đổ vào Việt Nam, Tập đoàn An Phát Holdings đã sớm có định hướng xây dựng các khu công nghiệp An Phát Complex và An Phát 1 tại Hải Dương theo tiêu chuẩn ESG (môi trường-xã hội-quản trị doanh nghiệp). Ông Phạm Văn Tuấn, Phó Tổng Giám đốc An Phát Holdings cho biết, đây là quyết định khá mạo hiểm vì dự án được triển khai trong bối cảnh bộ tiêu chí ESG còn mới mẻ và chưa trở thành tiêu chí bắt buộc đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Nhưng cũng vì quyết định táo bạo này mà An Phát Holdings đã trở thành hình mẫu về khu công nghiệp mới, thu hút được dòng vốn xanh, vốn chất lượng rót vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ cao; từ đó góp phần tạo đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương.

Xây dựng luật khu công nghiệp, khu kinh tế

Bộ Kế hoạch và Ðầu tư cho biết, với sự hợp tác quốc tế, Việt Nam đã thí điểm chuyển đổi một số khu công nghiệp từ mô hình truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái thông qua thúc đẩy sản xuất sạch hơn và liên kết hợp tác trong sản xuất để sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Ðến nay, khu công nghiệp sinh thái đang trở thành tiêu chí lựa chọn của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển bền vững, lợi ích song hành trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Nhiều địa phương và nhà đầu tư xác định việc phát triển khu công nghiệp theo mô hình mới là nhu cầu tất yếu, cấp bách để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Giai đoạn 2015-2019, sáng kiến khu công nghiệp sinh thái được triển khai thí điểm tại 4 khu công nghiệp thuộc tỉnh Ninh Bình, hai thành phố Ðà Nẵng và Cần Thơ và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tham gia sáng kiến, 72 doanh nghiệp hoạt động trong 4 khu công nghiệp thí điểm đã tiết kiệm được hơn 22 nghìn MW giờ điện, 600.000 m3 nước, xử lý gần 3.600 tấn hóa chất và chất thải, tiết kiệm hơn 76 tỷ đồng/năm và huy động hơn 207 tỷ đồng từ khu vực tư nhân để thực hiện các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn, đồng thời giảm tiêu thụ năng lượng, nước, hóa chất và chất thải…

Tuy nhiên trong thực tế, quá trình chuyển đổi và phát triển các khu công nghiệp mới còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là vấn đề liên quan đến vốn đầu tư và quy định của pháp luật. Ông Bruno Jaspaert, Giám đốc điều hành Khu công nghiệp Deep C (Hải Phòng) cho biết, để lắp đặt cột điện gió, doanh nghiệp phải nhiều lần trình các cấp có thẩm quyền và thực hiện trong 3 năm vì chưa có các tiêu chuẩn kỹ thuật về xây dựng cột điện gió trong khu công nghiệp.

Nhiều sáng kiến vận hành theo mô hình kinh tế tuần hoàn cÅ©ng chưa thể triển khai, như việc đưa nguồn nước xá»­ lý từ nước thải quay trở lại quy trình sản xuất công nghiệp, dù nhiều nhà đầu tư thứ cấp sẵn sàng tái sá»­ dụng nguồn nước này… Từ thá»±c tế hoạt động cá»§a doanh nghiệp, ông Bruno Jaspaert cho rằng, nếu không tạo ra cÆ¡ chế cá»™ng sinh tốt, sẽ rất khó thá»±c hiện mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu công nghiệp má»›i.

TS Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA) đề xuất Chính phủ cần sớm hoàn chỉnh và đồng bộ về thể chế, chính sách, mô hình phát triển, phương thức quản lý khu công nghiệp theo mô hình các khu công nghiệp sinh thái.

Quá trình này có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc sớm có định hướng phát triển khu công nghiệp phù hợp với bối cảnh của quốc gia và xu thế phát triển của kinh tế thế giới, nhất là xu hướng phát triển tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu toàn cầu.

Ðồng thời cần xác định và xây dựng hệ thống chính sách pháp luật đầy đủ, đồng bộ cho phát triển hệ thống khu công nghiệp với yêu cầu dễ áp dụng và thực hiện cho cả các chủ thể, gồm doanh nghiệp và bộ máy giám sát, quản lý hoạt động xây dựng và kinh doanh của các khu công nghiệp.

Cũng cần có thông tin về những bài học kinh nghiệm, những thực tiễn tốt ở các địa phương và chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi để các địa phương có sự sáng tạo, linh hoạt nhằm đạt mục tiêu chuyển đổi khu công nghiệp theo mô hình khu công nghiệp sinh thái với chi phí thấp nhất và thời gian ngắn nhất.

Nhằm tháo gỡ khó khăn cho quá trình phát triển khu công nghiệp sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay, bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Vụ trưởng Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư cho biết, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các khu công nghiệp phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả, nhất là đối với các mô hình khu công nghiệp mới; trong đó có việc nghiên cứu, xây dựng Luật Khu công nghiệp, khu kinh tế để bảo đảm tăng cường tính cạnh tranh quốc tế.

Theo Báo Nhân dân

]]>
Xây dựng khu công nghiệp sinh thái (kỳ cuối): Hành trình dài, chông gai, cần thêm nhiều nỗ lực /phat-trien-ben-vung/xay-dung-khu-cong-nghiep-sinh-thai-ky-cuoi-hanh-trinh-dai-chong-gai-can-them-nhieu-no-luc.html Mon, 26 Aug 2024 06:40:33 +0000 /?p=9422 Có cơ hội “mục sở thị” các khu công nghiệp (KCN) mới thấy rõ, làn sóng phát triển KCN xanh, KCN sinh thái tại Việt Nam đang mạnh mẽ thế nào.

Dự án tourbin điện gió tại DEEP C Hải Phòng. (Ảnh: Linh Chi)

Chuyến Ä‘i thá»±c tế dành cho báo chí về chá»§ đề “Chuyển đổi KCN truyền thống sang KCN sinh thái” ngày 21/8 cá»§a Bá»™ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa chúng tôi tá»›i thăm ba KCN: An Phát (Hải Dương), Nam Cầu Kiền và Deep-C (Hải Phòng) – những Ä‘iển hình đã và Ä‘ang tích cá»±c chuyển đổi xanh, hướng tá»›i mô hình KCN sinh thái.

Những KCN tiên phong

Đến với KCN An Phát, Hải Dương, ông Phạm Văn Tuấn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn An Phát Holdings cho biết, việc xây dựng các KCN bền vững, thân thiện với môi trường theo chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đã trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển dài hạn của Tập đoàn.

Đây không chỉ là yếu tố giúp các khu công nghiệp của An Phát Holdings thu hút vốn đầu tư FDI “xanh” đang đổ mạnh về Việt Nam mà còn đóng góp tích vực vào quá trình hiện thực hóa cam kết của Chính phủ đưa phát thải ròng về 0 (Net Zero) vào năm 2050.

Theo nhận định của các chuyên gia, nếu muốn hình thành các KCN theo chuẩn ESG, nhà đầu tư bất động sản công nghiệp phải xây mới lại từ đầu, chứ không dễ dàng chuyển đổi từ các KCN hiện hữu. Vì vậy, ngay từ khi bắt đầu triển khai các dự án, Ban lãnh đạo An Phát Holdings đã đề ra chiến lược phát triển rõ ràng đó là, đưa các KCN trở thành KCN kiểu mẫu và tiên phong ở Hải Dương áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG trong quản lý và phát triển KCN.

Để bảo đảm tiêu chí về môi trường, ông Tuấn cho hay, An Phát Holdings yêu cầu các nhà xưởng phải được xây dựng theo hướng xanh và sạch, có hệ thống xử lý rác thải, khí thải và nguồn  nước đạt chuẩn, không ảnh hưởng tới cuộc sống người dân và hệ sinh thái xung quanh khu công nghiệp. Đặc biệt, An Phát Holdings khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai xây dựng các công trình xanh, sử dụng năng lượng tái tạo để tiết kiệm điện năng.

Tập đoàn thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua các chương trình phát triển giáo dục, y tế và an sinh địa phương. Đặc biệt, 2 dự án KCN của Tập đoàn mở ra hàng chục nghìn việc làm cho lao động địa phương, góp phần giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp ở các tỉnh lân cận, đồng thời nâng cao chất lượng sống của người dân.

“Còn về tiêu chí quản trị, chúng tôi đẩy mạnh việc cung cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, chất lượng cao cùng dịch vụ một cửa với hàng loạt giải pháp hỗ trợ toàn diện như thủ tục tài chính, đăng ký kinh doanh, khai báo hải quan, dịch vụ vận tải, ký túc xá, suất ăn công nghiệp, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư…”, ông Tuấn nói.

Dây chuyền sản xuất sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn tại nhà máy của An Phát Holdings. (Nguồn: An Phát Holdings)

Trong khi đó, vá»›i vai trò tích cá»±c cá»§a nhà đầu tư là Công ty Cổ phần Shinec, KCN Nam Cầu Kiền đã trở thành mô hình khu công nghiệp sinh thái thí Ä‘iểm tại TP. Hải Phòng. Tháng 4/2024, báo cáo Phát triển bền vững cá»§a ESG do PwC – 1 trong 4 đơn vị kiểm toán lá»›n nhất thế giá»›i – đã chứng nhận sá»± vượt trá»™i trong mô hình sinh thái tại KCN này.Tại đây, đã có hÆ¡n 1 triệu cây xanh được trồng, chiếm đến 33% diện tích đất khu công nghiệp. Hệ thống quan trắc nguồn thải tá»± động liên tục truyền dẫn thông tin về Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng (24/24 giờ) tất cả các ngày trong tuần.

Bên cạnh đó, 81,4 kWh điện đã được tạo ra từ dự án điện mặt trời áp mái và được sử dụng trong vận hành khu công nghiệp Nam Cầu Kiền. 25% lượng nước thải trong khu công nghiệp sau xử lý được tái sử dụng cho mục đích tưới cây, rửa đường, giảm lượng xả ra ngoài môi trường, tiết kiệm 6 tỷ đồng mỗi năm chi phí mua nước sạch.

Ngoài ra, 65% hệ sinh thái trong khu công nghiệp được phục hồi sau khi áp dụng triệt để mô hình sinh thái tại Nam Cầu Kiền. Mô hình được Shinec nhân rộng trên cả  nước, với tổng quy mô quỹ đất lên đến 3.500 ha.

Ông Phạm Hồng Điệp, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Shinec, Chủ đầu tư KCN Nam Cầu Kiền, Hải Phòng chia sẻ với phóng viên rằng, hiện nay, trong xu thế phát triển bền vững, Shinec đang đẩy mạnh tiết kiệm nguồn tài nguyên nước sạch, xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp…

“Trong tất cả các KCN đều có rác thải sinh hoạt. Theo đúng quy định, phải có một đơn vị ngoài KCN đem rác thải sinh hoạt này đi xử lý, nhưng chúng tôi đã quan tâm đầu tư máy tự phân hủy rác thải hữu cơ của Nhật Bản về để xử lý. Chúng tôi phấn đấu đến hết năm 2024 đạt ‘zero rác thải’ ở khu KCN, rác thải sẽ được xử lý 100%.

Chúng tôi lấy từ đất thứ gì, chúng tôi trả lại đất thứ đó. Không chỉ truyền cảm hứng cho các nhà đầu tư trong KCN, chúng tôi muốn mang mô hình này đi đầu tư ở các tỉnh khác”, ông Điệp tâm huyết.

Còn với KCN Deep C, nơi đây nổi bật với hệ thống năng lượng tái tạo (điện mặt trời áp mái, điện gió); khu tổ hợp dịch vụ xã hội trong khu công nghiệp. Các công trình sinh thái nơi đây đều dựa vào tự nhiên ứng phó biến đổi khí hậu.

Ông Bruno Jaspaert, Tổng Giám đốc KCN DEEP C Hải Phòng nhấn mạnh, các nguyên tắc phát triển hiện nay của KCN đều theo hướng bảo đảm rằng, các doanh nghiệp muốn đến đầu tư vì chúng tôi cung cấp khả năng tiếp cận các dịch vụ liên quan đến ESG, chứng chỉ carbon, các sáng kiến đầu tư hiệu quả về cả lợi nhuận và trách nhiệm xã hội.

Nhà máy xử lí nước thải tập trung nhìn trên cao tại Nam Cầu Kiền. (Nguồn: Forbes Việt Nam)

Không phải hành trình “trải đầy hoa”

Dù vậy, hành trình tới KCN sinh thái không phải là hành trình “trải đầy hoa”. Ông Bruno Jaspaert khẳng định, việc xây dựng một KCN sinh thái không chỉ khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì, sự cố gắng và thời gian mà còn cần cả tài chính.

Bên cạnh đó, mặc dù đang hình thành và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, nhưng các KCN sinh thái vẫn có quá nhiều điều mới mẻ.

“Hiện tại, chưa hề có một ưu đãi nào cho các khu công nghiệp sinh thái. Sự khác nhau giữa đầu tư thông thường và đầu tư bền vững là vấn đề thời gian và hành trình đầu tư bền vững sẽ cần nhiều thời gian hơn.

Chính vì thế, chúng tôi mong muốn, chính phủ Việt Nam có thể xem xét gia hạn thời gian cho nhà đầu tư hạ tầng xây dựng thành công khu công nghiệp sinh thái là 70 năm thay vì 50 năm như quy định hiện nay”, Giám đốc điều hành của KCN DEEP C bày tỏ.

Bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong chuyển đổi sang mô hình công nghiệp sinh thái là tái sử dụng các chất thải; tiếp cận nguồn lực về tài chính, tín dụng, ưu đãi.

Bà nói: “Khu công nghiệp sinh thái đòi hỏi vốn đầu tư lớn và sự cam kết mạnh mẽ của các nhà đầu tư hạ tầng. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, khuyến khích để doanh nghiệp có động lực triển khai theo mô hình phát triển bền vững”.

Cần thêm giải pháp đột phá, phù hợp xu thế mới

Trong tương lai, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, bà Vương Thị Minh Hiếu nhận định, các KCN trong thời gian tới cần có những giải pháp đột phá, phù hợp với xu thế mới, trong đó tập trung vào các trọng tâm như:

Thứ nhất, mạnh dạn tiên phong thay đổi hướng phát triển các mô hình KCN mới. Theo đó, tập trung đẩy mạnh phát triển mô hình KCN sinh thái, KCN xanh, trong đó cần quy hoạch hình thành các khu Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, hướng đến xây dựng “Thung lũng Sillicon Việt Nam”.

Thứ hai, lấy  khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm trụ cột cho phát triển trong tương lai.

Thứ ba, thu hút đầu tư có chọn lọc, chủ động tiếp xúc, bám sát các Tập đoàn hàng đầu thế giới trong các ngành, lĩnh vực mà Việt Nam ưu tiên.

Thứ tư, phát triển sản xuất, công nghiệp, dịch vụ trên nguyên tắc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, gắn với liên kết phát triển vùng, hình thành cụm liên kết ngành; hạn chế phát triển KCN trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định (đặc biệt là đất trồng lúa) và tại các khu vực khó có khả năng đền bù, giải phóng mặt bằng.

Thứ năm, phát triển kinh tế đi liền với phát triển hạ tầng xã hội; bảo đảm bền vững về môi trường; quy hoạch và triển khai các giải pháp xây dựng nhà ở và các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong KCN, khu hinh tế (KKT); hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp-đô thị-dịch vụ, bảo đảm cho việc phát triển bền vững các KCN, KKT.

Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng nhà máy xử lý  nước thải; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tại Ban quản lý KCN, KKT, kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các nhà đầu tư tại các KCN, KKT.

Thứ bảy, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của các KCN, KKT các địa phương thông qua: cải thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, cảng biển, cảng hàng không, dịch vụ logistic) và tăng cường nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước hơn 35 năm qua, bà Vương Thị Minh Hiếu tự tin rằng, mô hình KCN, KKT đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò, vị trí ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy tăng trưởng và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; kênh thu hút các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm sự phát triển bền vững.

Do đó, trong thời gian tới, theo thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các địa phương, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các KCN, KKT trên cả nước phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả, đặc biệt đối với các mô hình KCN mới như KCN sinh thái.

Theo Báo Thế giới và Việt Nam

]]>
Xây dựng khu công nghiệp sinh thái (kỳ I): Vượt xa các lợi ích kinh doanh thông thường /hoat-dong-moi-truong/xay-dung-khu-cong-nghiep-sinh-thai-ky-i-vuot-xa-cac-loi-ich-kinh-doanh-thong-thuong.html Mon, 26 Aug 2024 06:13:40 +0000 /?p=9417 Xu thế phát triển khu công nghiệp (KCN) xanh hoặc KCN sinh thái và thúc đẩy sản xuất sạch hơn tại Việt Nam đang trên đà phát triển.

Các khu công nghiệp sinh thái đang trở thành tiêu chí lựa chọn của các nhà đầu tư FDI. Hình ảnh Công ty Cổ phần Nhựa An Phát Xanh thuộc Tập đoàn An Phát Holdings. (Nguồn: An Phát Holdings)

Mô hình KCN sinh thái được coi là giải pháp không chỉ khắc phục được những hạn chế, bất cập về vấn đề môi trường, giảm chất thải, giảm lãng phí tài nguyên, giảm thiểu rủi ro, mà còn thúc đẩy tăng trưởng bền vững, tăng khả năng cạnh tranh.

Các lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường thu được từ KCN sinh thái là đáng kể, đa dạng và vượt xa các lợi ích kinh doanh thông thường.

Tiêu chí lựa chọn của nhà đầu tư FDI

Trao đổi với phóng viên Báo Thế giới và Việt Nam trong chuyến đi thực tế dành cho báo chí về chủ đề “Chuyển đổi KCN truyền thống sang KCN sinh thái” ngày 21/8 tại Hải Dương và Hải Phòng, bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho rằng, KCN sinh thái đang trở thành tiêu chí lựa chọn của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với mục tiêu phát triển bền vững, lợi ích kinh tế song hành trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.
Nhiều địa phương và nhà đầu tư hạ tầng KCN xác định, việc phát triển KCN theo mô hình KCN sinh thái là nhu cầu tất yếu, cấp bách để kiến tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.

KCN sinh thái sẽ đóng góp đáng kể vào nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu, huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cho giải pháp công nghiệp xanh, đảm bảo an ninh năng lượng, thể hiện quyết tâm chính trị của Chính phủ trong việc thực hiện các cam kết phát triển bền vững.

Bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). (Ảnh: L.C)

Về định hướng phát triển KCN gắn với phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, bà Vương Thị Minh Hiếu cho rằng, thế giới đang trong quá trình điều chỉnh hết sức mạnh mẽ, làm thay đổi trật tự và cấu trúc về thương mại, đầu tư.Các nhân tố tác động mạnh tới Việt Nam sẽ là: Xoay trục địa chính trị trong chiến lược ngoại giao của các nước lớn; xu hướng phát triển mạnh mẽ của Cách mạng Công nghiệp 4.0 (chuyển đổi số, phát triển xanh, bền vững); tái sắp xếp chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu; hình thành chuỗi cung ứng mới; gia tăng cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia trong thu hút đầu tư; thiết kế chính sách riêng để thu hút các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ lõi có giá trị gia tăng lớn hoặc nâng cao vị thế quốc gia.

Song song với đó, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực thông qua các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tiêu chuẩn cao; đồng thời đã thành công xác lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc hàng đầu thế giới.

Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế nhận thấy, đây chính là những yếu tố vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam để phát triển bứt phá và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

“Phát triển bền vững không còn là khẩu hiệu mà đang thực sự trở thành xu thế tất yếu, là giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp xác định tầm nhìn và định hướng chiến lược kinh doanh”, bà Hiếu nói.

Việt Nam đã thí điểm KCN sinh thái

Bà Hiếu thông tin, thời gian qua, với sự hỗ trợ của các tổ chức, chuyên gia quốc tế và nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ, Việt Nam đã thí điểm chuyển đổi một số KCN từ mô hình truyền thống sang KCN sinh thái thông qua thúc đẩy sản xuất sạch hơn và liên kết hợp tác trong sản xuất để sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Trong giai đoạn năm 2015-2019, sáng kiến KCN sinh thái được triển khai thí điểm tại 3 địa phương: Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thực hiện với nguồn tài trợ từ Tổng cục kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO), Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) và Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP).

Đến nay, bà Vương Thị Minh Hiếu cho biết, các hoạt động thí điểm thực hiện KCN sinh thái đã đạt được kết quả tích cực như: Phổ biến khái niệm, đặc điểm, lợi ích của mô hình KCN sinh thái tới các Bộ, ngành liên quan, các địa phương, các KCN thí điểm và các doanh nghiệp tham gia dự án; mô hình KCN sinh thái lần đầu tiên được thể chế hóa tại Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, đặt nền móng pháp lý cho việc chuyển đổi các KCN thông thường sang KCN sinh thái và nhân rộng mô hình này; các doanh nghiệp tham gia đã được hưởng lợi từ các kết quả cụ thể, góp phần nâng cao tính cạnh trạnh của doanh nghiệp trên thị trường.

Từ năm 2020 đến 2024, với nguồn hỗ trợ tài chính của Chính phủ Thụy Sỹ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục phối hợp với UNIDO nhân rộng mô hình KCN sinh thái thêm tại 3 địa phương là Hải Phòng, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh và thu được các kết quả rất đáng khích lệ.

Cụ thể, tính đến hết tháng 5/2024, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNIDO đã hỗ trợ được 90 doanh nghiệp với 889 giải pháp hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) tại 4 KCN Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh), Amata (Đồng Nai) và Đình Vũ (Hải Phòng) và Hoà Khánh (Đà Nẵng).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng tiếp tục tham mưu hoàn thiện hành lang pháp lý để khuyến khích phát triển mô hình KCN sinh thái tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ.

Theo đó, Nghị định trên đã kế thừa các quy định tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, bổ sung, hoàn thiện các quy định về chính sách hỗ trợ và hợp tác phát triển KCN sinh thái; tiêu chí xác định; các ưu đãi; trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký chứng nhận KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái; các quy định liên quan đến chứng nhận lại hoặc chấm dứt hiệu lực, thu hồi Giấy chứng nhận KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái.

Đặc biệt, bên cạnh việc hướng dẫn chuyển đổi các KCN sinh thái, Nghị định khuyến khích, định hướng việc quy hoạch và xây dựng mới các KCN sinh thái thông qua quy hoạch xây dựng, thiết kế hợp lý các phân khu chức năng và định hướng thu hút các dự án đầu tư có ngành, nghề tương đồng để hỗ trợ thực hiện cộng sinh công nghiệp và có ưu đãi để khuyến khích phát triển KCN sinh thái mới như không áp dụng tỷ lệ lấp đầy đối với mô hình KCN này.

Ngoài ra, Nghị định cũng làm rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc định hướng và hỗ trợ triển khai các KCN sinh thái tại địa phương; đơn giản hóa các điều kiện, tiêu chí và thủ tục chứng nhận KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái; quy định việc thực hiện theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả thực hiện KCN sinh thái và doanh nghiệp sinh thái trên hệ thống thông tin về KCN, KKT theo định hướng chuyển đổi số.

Một trong những điểm mới được đánh giá là tiến bộ của Nghị định 35/2022/NĐ-CP là đã bổ sung các quy định để đảm bảo điều kiện an sinh xã hội cho người lao động làm việc trong KCN.

Hệ sinh thái tại KCN Nam Cầu Kiền (Hải Phòng). (Ảnh: Linh Chi)

Giai đoạn 2024-2028, trên cơ sở các kết quả tích cực trong triển khai mô hình KCN sinh thái tại Việt Nam, chính phủ Thụy Sỹ đã cam kết tiếp tục cùng UNIDO đồng hành với Việt Nam đẩy mạnh triển khai KCN sinh thái gắn với kinh tế tuần hoàn.

Văn kiện Dá»± án “Nhân rá»™ng phương pháp tiếp cận KCN sinh thái để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam” vá»›i tổng vốn há»— trợ 3,6 triệu USD do Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ tài trợ đã được Bá»™ trưởng Bá»™ Kế hoạch và Đầu tư Nguyá»…n Chí DÅ©ng phê duyệt tháng 8/2024, tiếp tục đẩy mạnh thá»±c hiện KCN sinh thái tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và Long An trong giai Ä‘oạn 2024-2028.

Bà Vương Thị Minh Hiếu khẳng định: “Việc triển khai mạnh mẽ KCN sinh thái trong khuôn khổ các dự án hợp tác quốc tế có ý nghĩa lan tỏa, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững cho nhiều địa phương, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN tại Việt Nam”.

Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế lấy ví dụ về KCN Nam Cầu Kiền (Hải Phòng) của Công ty cổ phần Shinec. Tại đây, nhà đầu tư đã sử dụng nguồn vốn của mình để tự triển khai mô hình KCN sinh thái. KCN hiện đang phát triển theo hướng KCN sinh thái thông minh, thực hiện tốt các hoạt động kinh tế tuần hoàn…

Theo Báo Thế giới và Việt Nam

]]>
Chính phủ phê duyệt đề án tăng cường công tác quản lý chất thải nhựa, doanh nghiệp Việt hành động gì? /hoat-dong-moi-truong/chinh-phu-phe-duyet-de-an-tang-cuong-cong-tac-quan-ly-chat-thai-nhua-doanh-nghiep-viet-hanh-dong-gi.html Wed, 18 Aug 2021 02:02:08 +0000 /?p=6972 Mới đây, Chính phủ ban hành Quyết định 1316/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án tăng cường công tác quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam, cho thấy quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa của Chính phủ trong việc giảm thiểu, thay thế túi nilon bằng các sản phẩm thân thiện môi trường. Đứng trước tình hình này, nhiều doanh nghiệp Việt đã có những bước đi chiến lược với mục đích đồng hành cùng Chính phủ thực hiện mục tiêu đề ra.

Quyết định 1316/QĐ-TTg của Chính phủ nhấn mạnh đặt mục tiêu đến năm 2025 sử dụng 100% túi nilon, bao bì thân thiện với môi trường tại các trung tâm thương mại, siêu thị phục vụ cho mục đích sinh hoạt thay thế cho túi nilon khó phân hủy. Đảm bảo thu gom, tái sử dụng, tái chế, xử lý 85% lượng chất thải nhựa phát sinh, giảm thiểu 50% rác thải nhựa trên biển và đại dương. Phấn đấu 100% các khu du lịch, khách sạn không sử dụng túi nilon khó phân hủy và sản phẩm nhựa dùng một lần.

Đây cũng được xem là hành động quyết tâm nối tiếp Chỉ thị 33/CT-TTg của Chính phủ ban hành về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Yêu cầu triệt để việc giảm thiểu sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần.

Theo đó, một trong các nhiệm vụ và giải pháp cấp bách lúc này để thực hiện đề án là tăng cường nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường. Chính phủ cũng yêu yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức tăng cường nghiên cứu, đầu tư và phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế sản phẩm nhựa. Nghiên cứu, thiết kế, sản xuất bao bì, sản phẩm nhựa tối ưu nhằm giảm tối đa định mức nguyên liệu nhựa/sản phẩm. Đồng thời nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm trọng điểm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá và chứng nhận chất lượng các sản phẩm bao bì thay thế sản phẩm nhựa và sản phẩm túi nilon phân hủy sinh học, thân thiện với môi trường đáp ứng quy định của Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt không đợi có đề án mới thực hiện

Thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt đã chuyển hướng nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm  thân thiện môi trường nhằm thay thế các sản phẩm nhựa dùng một lần. Tuy nhiên, đa phần các nhà sản xuất trong lĩnh vực này lại gặp khó khăn về vấn đề nguyên liệu khi họ phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài, sản xuất tại Việt Nam và quay lại phân phối ra thị trường. Điều này làm tăng giá thành sản phẩm, phụ thuộc rất nhiều vào đối tác cung ứng và vận chuyển.

Dó đó, bài toán chuỗi cung ứng nguyên liệu khép kín đang là thách thức và trở ngại rất lớn với nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này.

Trong khi nhiều doanh nghiệp đang bối rối về vấn đề  này thì An Phát Holdings đã mạnh tay xây dựng nhà máy nguyên liệu xanh mang tên Nhà máy sản xuất chất dẻo sinh học phân huỷ hoàn toàn PBAT An Phát trị giá 100 triệu đô la Mỹ với quy mô lớn nhất Đông Nam Á, quyết tâm “nắm đằng chuôi” để chủ động cung cấp nguyên liệu và sản xuất sản phẩm xanh thay thế các sản phẩm nhựa dùng một lần.

Đơn vị này cũng xác định mục tiêu trước mắt, cũng là mục tiêu bền vững là chủ động nguyên liệu sản xuất giúp giảm giá thành sản phẩm đồng thời thực hiện kế hoạch đưa nguyên liệu xanh của Việt Nam ra thế giới.

Dự án xây dựng nhà máy PBAT An Phát đã chính thức được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp chứng nhận đăng ký đầu tư, có công suất 30.000 tấn/năm và dự kiến bắt đầu hoạt động sản xuất  năm 2024 tại KCN Đình Vũ, Hải Phòng.

AnEco wood sawdust straws of An Phat Holdings are made from 100% compostable materials.
Sản phẩm ống hút bột gỗ AnEco của An Phát Holdings làm từ nguyên liệu sinh học phân hủy hoàn toàn.

An Phát Holdings hiện đã có trong tay công nghệ lõi độc quyền sản xuất nguyên liệu của Hàn Quốc, đã huy động được nguồn vốn, nhân lực và hợp tác với đối tác hàng đầu từ Đức để thực hiện dự án. Đây được kỳ vọng là bước tiến quan trọng của doanh nghiệp Việt Nam trong việc tạo lập chuỗi cung ứng của riêng mình, giải quyết triệt để bài toán nguyên liệu.

Nhà máy của An Phát Holdings sản xuất bao bì màng mỏng và sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn AnEco.
Nhà máy của An Phát Holdings sản xuất bao bì màng mỏng và sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn AnEco.

Với nhà máy này, An Phát Holdings sẽ sử dụng hệ thống dây chuyền hiện đại bậc nhất để đưa ra sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Nhà máy được thiết kế với phần trăm tự động hóa cao. Các chuyên gia có thể vận hành từ phòng điều khiển từ xa, đảm bảo độ chính xác và an toàn cao.

Khi nhà máy đi vào hoạt động, 70% sản phẩm  sẽ dùng để phục vụ nhu cầu sản xuất của Tập đoàn này, 30% sẽ dùng để thương mại tại các thị trường mục tiêu như Hoa Kỳ, EU, Canada, Hàn Quốc, Úc.

Dự án PBAT hoàn thành sẽ giúp An Phát Holdings hoàn thiện hệ sinh thái khép kín, chính thức đưa tập đoàn này tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng nguyên liệu xanh  toàn cầu. Hơn thế nữa, việc làm chủ nguồn nguyên liệu sẽ giúp tập đoàn này giảm giá thành sản phẩm  thân thiện môi trường, vốn luôn là một rào cản trong việc tiếp cận với đại đa số khách hàng.

]]>
Ngư cụ có khả năng phân hủy sinh học – giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa đại dương /hoat-dong-moi-truong/ngu-cu-co-kha-nang-phan-huy-sinh-hoc-giai-phap-giam-thieu-rac-thai-nhua-dai-duong.html Tue, 08 Jun 2021 02:09:28 +0000 /?p=6670 Tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đang ngày càng nghiêm trọng, sự gia tăng của nhựa đại dương trở thành mối quan tâm toàn cầu. Những sản phẩm như lưới và các thiết bị đánh cá ngày càng bị coi là thủ phạm chính. Vì thế, việc nghiên cứu và sản xuất ngư cụ thân thiện với môi trường được kỳ vọng sẽ mang lại giải pháp giúp giảm thiểu vấn đề về rác thải nhựa đại dương.

Ngư cụ – Tác nhân gây ô nhiá»…m biển

Việt Nam là nước đứng thứ 4 trên thế giới về lượng rác thải nhựa với tổng lượng rác thải nhựa ra đại dương ước tính từ 0.28 đến 0.73 triệu tấn mỗi năm (Jambeck, 2015). Rác thải nhựa đang gây ra những mối nguy hiểm nghiêm trọng cho các loài sinh vật biển. Khoảng 70% nhựa mảnh lớn trên biển và 46% Đảo rác lớn Thái Bình Dương được hình thành từ các ngư cụ (Greenpeace, 2019). Tổ chức Lương thực & Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính trên thế giới mỗi năm có khoảng 640.000 tấn ngư cụ bị bỏ lại trên biển.

Lưới đánh cá bị vứt bỏ gây nguy hại cho các sinh vật biển
Lưới đánh cá bị vứt bỏ gây nguy hại cho các sinh vật biển

Theo một báo cáo của Tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), ngư cụ bị mất và bị bỏ lại đang là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm mảnh nhựa lớn ở đại dương và khiến sinh vật biển bị tổn hại. Hơn 640.000 tấn lưới, dây thừng, chậu và bẫy được sử dụng trong đánh bắt cá thương mại bị đổ và vứt bỏ trên biển mỗi năm, tương đương với trọng lượng với 55.000 xe buýt hai tầng.

Báo cáo cho biết, ngư cụ bị bỏ rơi đặc biệt nguy hiểm. Lưới và dây thừng có thể là mối đe dọa đối với động vật hoang dã trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ, bao gồm mọi loài sinh vật biển, từ cá nhỏ và động vật giáp xác, đến rùa, chim biển và cả cá voi.

Giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa đại dương

Từ năm 2002, Hàn Quốc đã bắt đầu phát triển và cung cấp ngư cụ có khả năng phân hủy sinh học theo chỉ đạo của Viện Khoa học và Đánh bắt thủy sản Quốc gia NIFS (National Institute of Fisheries Science). AnKor Bioplastics, một thành viên của Tập đoàn An Phát Holdings, đã tham gia nghiên cứu và phát triển ra các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngư cụ như lưới đánh cá có khả năng phân hủy sinh học.

An Phát Holdings thử nghiệm khả năng phân hủy sinh học của ngư cụ trong môi trường nước biển
An Phát Holdings thử nghiệm khả năng phân hủy sinh học của ngư cụ trong môi trường nước biển

Trên nền tảng đó, sau nhiều năm nghiên cứu và phát triển, Tập đoàn An Phát Holdings hiện đã sản xuất thành công và thương mại các loại ngư cụ phân hủy sinh học hoàn toàn như lưới đánh cá, bẫy cá… Các ngư cụ này có nguyên liệu được phối trộn từ các thành phần: PBS, PBAT và một số vật liệu, phụ gia khác có khả năng phân hủy sinh học, thân thiện với môi trường.

Ưu điểm của sản phẩm là có thể phân hủy hoàn toàn trong môi trường nước biển, đáy biển nhờ tác động của các vi sinh vật. Quá trình phân hủy không tạo ra chất gây hại cho môi trường, thời gian phân hủy ngắn hơn các sản phẩm ngư cụ truyền thống.

Bên cạnh đó, theo các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và ngoài môi trường thực tế, các sản phẩm ngư cụ “xanh” do Tập đoàn sản xuất có tính chất lý hóa và khả năng đánh bắt thủy sản tương đương ngư cụ thông thường trên thị trường. Nhờ những ưu điểm đó, các ngư cụ phân hủy sinh học của An Phát Holdings đã được thị trường đón nhận và đặc biệt là sản phẩm lưới đánh cá được xuất khẩu đến nhiều nước lớn như Châu Âu, Mỹ…

Sản phẩm lưới đánh cá phân hủy sinh học của Tập đoàn An Phát Holdings
Sản phẩm lưới đánh cá phân hủy sinh học của Tập đoàn An Phát Holdings

Với định hướng nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm phục vụ mọi lĩnh vực đời sống, ngoài mặt hàng tiêu dùng như các loại túi, dao, thìa, dĩa, ống hút, găng tay sinh học… thì các ngư cụ hay màng phủ nông nghiệp có khả năng phân hủy sinh học là bước tiến quan trọng trong chặng đường phát triển mảng sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn của Tập đoàn. Hi vọng rằng, trong thời gian tới, các sản phẩm tiện ích này sẽ được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi tại thị trường Việt Nam và thế giới.

]]>